TỄU Blog : Nguồn gốc các từ
Buồi, Cặc.. 

Phân tích một số từ biểu thị sinh thực khí nam giới trong cách gọi dân gian
Người hiếu cổ
Tễu Blog
Bài viết dưới đây, Blog Người hiếu cổ xin đưa ra một nghiên cứu sơ bộ về nguồn gốc của các từ biểu thị sinh thực khi nam giới trong cách gọi dân gian (thông tục). Trước tiên xin có mộtđoạn dẫn giải về tục thờ sinh thực khí và tín ngưỡng phồn thực như sau:
Tễu Blog
Bài viết dưới đây, Blog Người hiếu cổ xin đưa ra một nghiên cứu sơ bộ về nguồn gốc của các từ biểu thị sinh thực khi nam giới trong cách gọi dân gian (thông tục). Trước tiên xin có mộtđoạn dẫn giải về tục thờ sinh thực khí và tín ngưỡng phồn thực như sau:
Tín ngưỡng phồn thực(1) là tín ngưỡng được sùng bái
từ rất lâu đời và mang tính toàn thế giới. Chúng ta ngày nay vẫn còn thấy được
rất nhiều hình vẽ, họa tiết hoặc tượng và các hoạt động mang tính nghi lễ liên
quan đến văn hóa phồn thực. Có thể dẫn chứng một số ví dụ sau: Theo tín ngưỡng
phồn thực của Ấn Độ, Nê Pan (hoặc một số nước khác nhưChăm Pa), người ta gọi
sinh thực khí của người nam là Linga, sinh thực khí người nữ là Yoni, người ta
coi đó là 2 vị thần, là nguyên lý khởi nguyên của vũtrụ (âm - dương). Tại Việt
Nam, tục thờ sinh thực khí ngày nay vẫn còn được lưu giữ tại các hội lễ mật tại
miền Bắc, cùng với nghi thức “Linh tinh tình phọc”,hai vật tượng trưng này luôn
được cất giữ rất trang trọng. Nam giới tượng trưng cho dương khí, và sinh thực
khí người nam tượng trưng cho 1 trong 2 nguyên lý để hóa sinh vạn vật. Người
Nhật Bản rất coi trọng sinh thực khí nam giới, chính vì thế có rất nhiều lễ hội
thờ và rước sinh thực khí nam tại đây. Điển hình là lễ hội Kanamara (xem hình
3)
Tôi
xin đi vào chủ đềchính của bài viết:
Lễ hội Kanamara Nhật BảnSinh thực khí người nam giới
(tức bộ phận sinh dục nam) trong vốn từ dân gian rất phong phú, có rất nhiều
cách gọi. Nhưng đúng với “tính võ đoán” của ngôn ngữ, ngày nay chúng ta chỉ
biết từ đó nghĩa là như thế, nhưng không hiểu vì sao nó lạiđược dùng với nghĩa
như vậy. Chính vì thế, nhân đọc về nghi lễ rước dương vật của người Nhật, tôi
xin đưa ra mấy suy nghĩ về nguồn gốc của các từ biểu thịsinh thực khí nam giới
trong cách gọi thông tục.
Xin liệt kê những từ dùng trong dân gian (thông tục)
với nghĩa chỉ sinh thực khí nam giới:
-
Buồi
-
Cặc
-
Dái
-
Nõ
Ta tìm hiểu từ “Cặc”: Từ này thực ra có liên quan đến từ “Cọc” (chữ Nôm)
và “Cực” (chữ Hán). “Cực” có nghĩa là cái cột cao nhất của ngôi nhà, nôm na ta
hiểu là cái cột. Mà cột với “cọc’ cùng tính chất, nên sau này người ta dùng chữ
“cực” cũng với nghĩa là “cọc”. Người xưa chơi chữ rất hay, “cọc” đọc lái đi để
chỉ sinh thực khí nam giới. Như vậy ta thấy ở đây có một chuỗi biến đổi khá
logic: Cực – Cột – Cọc – Cặc
Vì
thế mà khi đọc bài thơ “Quả mít” của Hồ Xuân Hương, ta thấy rất rõ ẩn ý của bà:
“Quân
tử có thương thì đóng cọc
Xin
đừng mân mó nhựa ra tay”
Lại
có một minh chứng nữa cho luận giải “Cặc – Cọc”, đó chính là cụm từ “Cặc bần”
của miền Tây Nam
Bộ. Có câu:
“Nước
chảy, cặc bầnrung bây bẩy
Gió
đưa, dái mítgiãy tê tê”
Cặc bần “Bần” là một loài thực vật. Học giảVương Hồng
Sển viết về cây bần như sau: “Bần là cây gỗ tạp, mọc dựa mé nước, rễnhiều, bám
theo đất phù sa mà làm cho đất có phần vững chắc không trôi khi sóngđánh. Cây
bần có lá xanh rất đẹp, ban đêm đom đóm đậu nhiều trông rất xinh. Có trái, ăn
với mắm sống rất ngon. Chúa Nguyễn Ánh được nếm qua, rất hài lòng và ban cho
tên chữ là Thúy Liễu. Rễ của bần dùng làm nút ve được. Phân ra có loại
bần-chua, trái lớn; và bần-ổi, trái nhỏ hơn và tương đối ít chua hơn. Xưa nay,
nghề uốn và chơi kiểng, phàm cây kiểng lão và gốc bần quá già, khi nào gốc dẽra
ngoài bờ ngoài nước thì gọi là nó chiếu thủy, ý nói bóng cây ấy làm dáng và dòm
xuống nước”(2) Nhìn hình 4 chúng ta thầy những cái nhô lên chính là “cọc bần”,
nhưng người Tây Nam Bộ gọi là “Cặc bần” chính vì hiện tượng mà tôi đã lý giải ở
trên.
***
Trong từ điển tiếng Việt, ta bắt gặp nhiều cụm từ
như: Dái mít, dái tai, dái khoai,… Có một đặc điểm chung, các từ đó đều chỉ
những bộ phận mà có nhô ra hoặc lồi ra ngoài. Như “dái tai” chỉ phần thịt tai
chảy xệ xuống; “dái khoai” chỉ củ nhánh sinh ra theo dây khoai; “dái mít” chỉ
phần quả mít non nhô ra và chưa thành hình quả(3)… (Xem hình 5)
Vậy những thứ gì nhô ra và có dáng lồi hoặc trĩu
xuống thì được gọi là “dái”, vì thế chúng ta đã hiểu vì sao sinh thực khí nam
giới lại được gọi là “dái” phải không nào
Tôi từng nghe một câu ca dao “Yêu nhau hai cái nõ
nường”, “nõ” tức là sinh thực khí nam giới, còn “nường” là sinh thực khí nữ
giới.
Lại thấy thêm từ “nõ điếu” tức là lỗ để cho thuốc lào
vào hút ở điếu cày (xem hình 6).
Cách giải thích cho từ “nõ” với từ “dái” là giống
nhau, những phần nhô ra ngoài thì gọi là “nõ”.
Còn từ “Buồi” thì sao? Thực ra từnày tôi cũng chưa
thực sự có một cách giải thích hợp lý. Tuy nhiên, dựa vào âmđọc và tự dạng của
chữ Nôm, tôi đưa ra một giải thuyết:
“Buồi” gần âm với “Bùi” 裴, mà từ“bùi” tôi có phân tích tại
bài viết “Thâm nho nhọ đít: Nỡ lòng để con cháu không có quần áo!”: “Bùi” tức
là “phi y" (không có quần áo), vì thế mà người xưa dùng nghĩa chơi chữ đó
để chỉ sinh thực khí nam giới chăng?
Giả thuyết này xin được các học giả cùng bạn đọc góp
ý để người viết được mở mang kiến thức. Xin chân thành cảmơn!
***
Tựu trung lại, tôi vừa đưa ra một số phân tích để sơ
lược nêu ra nguồn gốc của các từ ngữ thông tục chỉ sinh thực khí nam giới để
bạn đọc tham khảo. Biển học vô bờ, mọi người còn nhiều kiến thức rộng rãi hơn
nữa, bài viết ở mức sơ lược, Blog người hiếu cổ rất mong được sự rộng lượng
châm chước.
______________________________________
(1) Phồn thực: có nghĩa là sinh sôi nảy nở. Tín
ngưỡng phồn thực hiểu đơn giản là sự sùng bái hoạt động tình dục nam nữ, coi đó
là mầm mống của sự duy trì và phát triển nòi giống. Tín ngưỡng phồn thực thể
hiện rõ nhất trong việc thờ sinh thực khí (tức bộ phận sinh dục) của nam và nữ
và các nghi lễ tượng trưng cho sự giao hợp nam nữ. (2) Tham khảo từ http://lophocvuive.com/diendan/f14/c%E1%BA%B7c-b%E1%BA%A7n-v%C3%A0-d%C3%A1i-m%C3%ADt-4430/
(3) Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam quấc âm tự
vị, Sài Gòn, 1895, trang 215
Nguồn: Người hiếu cổ Blog
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét